Browsing "Older Posts"

Browsing Category "ĐỒNG TÍNH"
Em có bị đồng tính: Em năm nay 17t em không xác định được tình cảm của mình , em vừa thích 1 bạn nữ nhưng lại có ham muốn tình dục vs bạn nam vậy em có phải đồng tính không em lo quá . em cần lời khuyên chân thành và có cách nào để em không có ham muốn tình dục vs người cùng giới .

Trả lời:

Xin chào em,

Chúng tôi rất hiểu những trải nghiệm về giới tính mà em đang có. Em đang ở trong giai đoạn lứa tuổi phát triển về thể chất, sinh lý nên việc có những cảm xúc phức tạp về giới tính là điều dễ hiểu.
nghi ngờ đồng tính
Có một phổ rộng các xu hướng giới tính gồm: dị tính, đồng tính (gay,les), song tính, vô tính. Trong giai đoạn dậy thì, khi có nhiều đặc điểm phát triển tâm sinh lý dẫn đến nhu cầu khám phá về giới, về xúc cảm tính dục thì tình trạng băn khoăn về giới sẽ diễn ra.

Việc em suy nghĩ, mơ mộng hay có những ảo tưởng tình dục với những người bạn cùng giới chưa thể xác định được em là người đồng tính. Bởi vẫn có nhiều người đàn ông dị tính chưa từng đụng chạm cũng như chưa từng quan hệ với người đàn ông khác nhưng cũng có những suy nghĩ, giấc mơ và ảo ảnh như em. Và cũng có nhiều nghiên cứu cho thấy những phụ nữ dị tính cũng có nhiều suy nghĩ, ảo giác về tình dục với những phụ nữ khác.

Mặt khác, việc em có suy nghĩ về quan hệ tình dục với những người bạn cùng giới có thể nảy sinh từ một vài lần có những tiếp xúc cơ thể, vô tình tạo ra các ham muốn về tình dục. Do đó, để phân tán sự chú ý vào việc này thì em cần tập trung vào việc học, tăng cường tham gia các hoạt động ngoài trời, chơi thể thao, gặp gỡ, mở rộng mối quan hệ tương tác với bạn bè, tránh sự tiếp xúc gần gũi và va chạm cơ thể với các bạn trai. Bên cạnh đó, em cần quan tâm đến cảm xúc dành cho bạn nữ mà mình thích nhiều hơn để có cách thể hiện tình cảm phù hợp.

Chúc em sống vui!

Ban tư vấn Tâm lý – Tổng đài tư vấn 1900 6233
Viện Tâm Lý và Giáo Dục Pháp Luật

Nghi ngờ đồng tính

By Unknown →
“Come out cũng giống như cách bạn giới thiệu một ly cà phê đến với một người chưa biết uống cà phê. Nếu uống ngay, sẽ đắng. Hãy để họ nhấp từ từ, uống từng ngụm nhỏ, uống cà phê nhạt trước, nhẹ nhàng, rồi sau đó mới tăng dần vị đậm, cho đến khi họ cảm nhận được ly cà phê thật sự.”

TÌNH YÊU CỦA MẸ HAY LÀ TÔI ĐÃ COME OUT NHƯ THẾ NÀO?

“Mẹ nói cho con nghe. Bây giờ không chỉ anh hai, mà nếu ngay cả con sau này lớn lên có là gay. Ngay cả khi hai đứa con trai của mẹ không cưới về cho mẹ được một cô vợ nào, không có đứa cháu nào, mẹ cũng sẽ chấp nhận. Mẹ sẽ không oán trách gì cuộc đời này hết, vì đó là số phận buộc mẹ phải vậy. Mẹ chỉ mong hai con của mẹ có một cuộc sống khỏe mạnh, bình yên và hạnh phúc.”


Đó là những gì mẹ nói với em trai anh, trong một buổi chiều, khi thằng nhóc “tài lanh” méc với mẹ “Anh hai là gay”, qua những gì mà nó đọc được trên Facebook. Dĩ nhiên, Phi Long không hề có ý định “hãm hại” gì anh hai nó, mà nó chỉ muốn chia sẻ với mẹ một trong những điều quan trọng nhất trong cuộc đời của anh hai. Mẹ luôn là người mẹ tuyệt vời, một người thầy, người dẫn đường, và quan trọng hơn hết là người bạn gắn bó sâu sắc với cuộc đời của hai đứa con. Có điều gì mà con không nói với mẹ được?

Có điều gì mà con không nói với mẹ được?

Bạn bè chơi với anh đều biết, anh công khai giới tính với tất cả mọi người, trừ gia đình. Anh quan niệm vầy, bạn bè là người mình có thể chọn được, ai tốt bụng, quý mình yêu mình, thì mình chơi, còn hông thì dẹp. Còn gia đình, mình không lựa chọn được, mình buộc phải yêu thương họ như một sứ mệnh thiêng liêng, mình phải yêu quý gia đình trước, rồi chuyện họ có thấu hiểu và thông cảm với mình không, mình sẽ thuyết phục sau.

Cũng đã nhiều lần anh nghĩ mình phải nói với mẹ, phải công khai, phải kể ra sự thật với hy vọng để mẹ hiểu mình. Nhưng anh lại sợ, anh chưa bao giờ đủ can đảm để đứng trước mẹ nói ra điều đó. Mẹ luôn coi anh là cả cuộc đời của mình. Mẹ đặt hết niềm tin, hy vọng, hết mọi tâm huyết vào anh. Điều này vừa làm anh cảm thấy hãnh diện, vừa nặng lòng. Anh sợ làm mẹ thất vọng rồi tan vỡ.

Vậy mà, một ngày nọ, mẹ đã chủ động nói với anh điều này. Mẹ nói, mẹ biết và mẹ hiểu, vì sau rất nhiều thời gian hoạt động xã hội, tiếp xúc với nhiều loại người và cuộc sống hiện đại, mẹ đã hiểu con hơn. Và, dù con có là gay, cũng không sao, mẹ vẫn yêu thương con bằng cả trái tim của mẹ. Trong giây phút đó, anh thấy mình thanh thản và lơ lửng như bị neo lại ở giữa một khu vườn thiên đường đầy tiếng chim hót. Sau 25 năm làm người, luôn tự nhủ mình phải mạnh mẽ, dũng cảm để cùng ba mẹ gánh vác gia đình này, rốt cuộc, anh cũng phải để mẹ nói ra giùm anh điều quan trọng nhất của đời mình. Mẹ luôn hiểu anh, thấu hiểu anh sâu sắc và quan trọng nhất, luôn luôn tha thứ, bởi điều mẹ hy vọng nhất trên cõi đời này rốt cuộc chỉ có một: CON CỦA MẸ ĐƯỢC HẠNH PHÚC.

Vậy là, anh đã come out như thế nào? Anh đã… ngồi nghe, mỉm cười, gật đầu, chảy nước mắt và “dạ” theo từng câu từng chữ mà mẹ nói. Anh ở đó, điềm tĩnh và nhẹ nhàng như thoát được một gánh nặng mà mình phải gồng mình chịu đựng suốt rất nhiều năm qua. Anh muốn hôn mẹ, cảm ơn mẹ vì mẹ đã… come out giúp con. Rốt cuộc, con vẫn chỉ là một đứa trẻ.

Tái bút: Anh may mắn sinh ra trong một gia đình có ba mẹ thấu hiểu con cái và yêu thương lẫn nhau. Tuy nhiên, cuộc chiến come out của anh vẫn thực sự là một cuộc chiến rất gian khổ vì dù nghèo, gia đình anh vẫn là một gia đình rất gia giáo và bảo thủ. Trong suốt gần 10 năm “nhận thức giới tính” của anh, anh vẫn phải come out từng ngày và come out dần dần.

Anh viết những bài blog, những entry có nhắc chút ít về giới tính và cố tình để cho em trai hay ở nhà thấy. Anh dẫn người bạn trong giới, tốt bụng về chơi với gia đình để họ thấy vui vẻ và gần gũi với nhau hơn. Anh dẫn những người yêu dễ thương và đứng đắn, lịch sự của mình về giới thiệu với ba mẹ như bạn thân để họ trò chuyện, làm quen với nhau. Anh chứng tỏ bản thân mình sống tốt bằng cách sống tự lập, tự kiếm tiền rồi tự mưu sinh, giúp đỡ gia đình và trên hết, sống có trách nhiệm với những gì mình làm ra, để không ai phải khinh thường hay chê trách gì mình trong xã hội.

Come out là một quá trình dài đăng đẳng, mệt nhoài và có lúc tưởng chừng như vô vọng. Come out cũng giống như cách bạn giới thiệu một ly cà phê đến với một người chưa biết uống. Nếu uống ngay, sẽ đắng. Hãy để họ nhấp từ từ, uống từng ngụm nhỏ, uống cà phê nhạt trước, nhẹ nhàng, rồi sau đó mới tăng dần vị đậm và rồi, họ sẽ quen và yêu thích nó. Come out không phải là kiểu đứng trước mặt bất kỳ một người nào và hét lên trước mặt họ: Ê, tao là gay. Đó quả là một sai lầm chết người.

Đừng làm người khác giật mình, hãy vén những bức màn bí mật một cách thật tinh tế. Khỏi nói chắc bạn cũng biết. Đó là một trong những khoảnh khắc thần thánh và đáng ăn mừng nhất của cuộc đời anh. Một cuộc sống mới đã bắt đầu!

( Bạn anhsangtim, Việt Nam )






TỔNG ĐÀI TƯ VẤN BỆNH ĐỒNG TÍNH: 1900 6233

Họ đã kể - Câu chuyện thứ Nhất !

By Mr. Hình →
Chủ đề về người đồng tính nói riêng và LGBT nói chung còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Kiến thức cơ bản về đồng tính vẫn chưa được giảng dạy chính thức, cũng như chương trình giáo dục phổ thông hầu như không đề cập đến sự hiện diện của LGBT. Điều khó tránh khỏi là còn rất nhiều những hiểu lầm và định kiến về người LGBT trong xã hội, gây khó khăn cho quá trình mỗi cá nhân tìm hiểu và nhận diện xu hướng tính dục hoặc bản dạng giới của bản thân. Chúng tôi đưa ra đây các nhận định sai lệch thường thấy ở Việt Nam và nhiều nơi khác, kèm với lời giải thích dựa trên những tài liệu khoa học đã được công nhận rộng rãi.


Người đồng tính bị rối loạn tâm thần và hay trầm cảm? Năm 1994, Hội Y khoa Hoa Kì đưa ra tuyên bố, “Những khó khăn về cảm xúc của người đồng tính nam và nữ không phải do nguyên nhân tâm lý mà chủ yếu xuất phát từ cảm giác bị cô lập trong một môi trường xã hội không chấp nhận họ.” Khi cộng đồng LGBT ngày càng cởi mở và tự tin hòa nhập trong xã hội, có thêm những người bạn đồng minh, mỗi cá nhân người đồng tính lại có thêm điều kiện và sự hỗ trợ để sống an toàn và hạnh phúc hơn.

Đồng tính là một “lựa chọn”? Bản thân xu hướng tính dục và bản dạng giới không phải là những lựa chọn, cũng như chuyện một người có xu hướng dị tính, hay thuận tay trái, hay có mắt màu nâu cũng chẳng phải là “lựa chọn” gì của họ cả. Sự lựa chọn chỉ nằm ở việc một người có dám khám phá bản thân, sống thật với chính mình và với những người quanh mình hay là không.

Đồng tính “chữa” được? Có một số người đồng tính hay LGBT nói chung tự kỳ thị bản thân và đè nén tình cảm thật của mình. Mặt khác, những cố gắng “chữa trị đồng tính” đều bị các tổ chức y tế uy tín phủ nhận và đã được chứng minh là không có tác dụng, thậm chí tác động tiêu cực làm người đồng tính trở nên trầm cảm, căng thẳng. Năm 2012, bác sĩ tâm thần học nổi tiếng Robert Spitzer lên tiếng rút lại nghiên cứu của ông năm 2001 về hiệu quả “chữa trị” đồng tính thành dị tính và xin lỗi cộng đồng đồng tính. Cùng với sự kiện này, chứng cứ khoa học duy nhất mà những người muốn “chữa trị đồng tính” thường dựa vào, nay đã không còn nữa.

Người dị tính là người “bình thường”? Nhiều người gọi người dị tính là “người bình thường”, vô hình trung tạo ấn tượng rằng những người đồng tính sẽ là “bất bình thường”. Thực tế là, các xu hướng tính dục tồn tại tự nhiên, bình thường và bình đẳng với nhau. Việc LGBT là nhóm thiểu số và xã hội chưa hiểu biết đầy đủ về họ không có nghĩa là họ “bất bình thường” hơn so với nhóm đa số (người dị tính).

Các mối quan hệ cùng giới dễ tan vỡ? Điều khác biệt căn bản hiện nay giữa các cặp đôi khác giới với cặp đôi cùng giới là các cặp cùng giới có thể chưa được pháp luật công nhận quyền kết hôn, chung sống hợp pháp. Ngoài ra, các nghiên cứu chứng minh được rằng các cặp đôi đều có những đặc điểm và khuynh hướng giao tiếp giống nhau, không phân biệt hai người đang yêu là khác hay cùng giới với nhau. Cũng như người dị tính, mối quan hệ tình cảm của người đồng tính cũng cần dựa trên các giá trị cơ bản về lòng tin, sự cam kết, sự tôn trọng và tình yêu; và đều có hợp có tan.

Người đồng tính hay bị bệnh AIDS? Đồng tính không phải là nguyên nhân của bệnh AIDS. Người dị tính cũng có thể mắc AIDS. Trong thực tế, mọi hành vi quan hệ tình dục không an toàn, dù là cùng giới hay khác giới, đều nguy hiểm như nhau.

Đồng tính là trào lưu từ phương Tây? Các ngành khoa học khác nhau cho đến nay đã ghi nhận sự hiện diện của người đồng tính nói riêng và LGBT nói chung trong hầu như mọi nền văn minh cổ xưa nhất từ Đông sang Tây. Chỉ có tùy theo thời kỳ và nền văn hóa thì cách gọi tên người LGBT mới khác nhau, ví dụ như thuật ngữ tiếng Anh “homosexual” để chỉ người đồng tính phải đến nửa cuối thế kỷ 19 mới xuất hiện lần đầu ở Đức, còn chuyên ngành về tính dục học thì bắt đầu ra đời trong các Đại học ở Mỹ vào đầu thập kỷ 70 của thế kỷ 20. Người đồng tính không “nhiều lên”, mà chỉ có nhiều người đồng tính hiểu biết hơn về bản thân, dám công khai sống thật và thể hiện mình hơn thôi.



Trung tâm ICS



TỔNG ĐÀI TƯ VẤN BỆNH ĐỒNG TÍNH: 1900 6233

NHỮNG HIỂU LẦM VÀ ĐỊNH KIẾN THƯỜNG GẶP

By Mr. Hình →
Có những người đồng tính và song tính gặp khó khăn trong quá trình công khai về tính dục của bản thân, và cũng có những người không gặp khó khăn cho lắm. Thường thì những người đồng tính, song tính sẽ thấy e ngại, thấy mình khác biệt và lẻ loi khi mới bắt đầu nhận ra xu hướng tính dục của mình khác với số đông. Những trường hợp đó không hề hiếm; và họ thường sẽ phải cố gắng vật lộn với những định kiến và thông tin sai lệch về đồng tính ở trong gia đình cũng như môi trường sống xung quanh. Trẻ em và thiếu niên là những đối tượng dễ chịu ảnh hưởng nhất khi bị phân biệt đối xử và định kiến. Chúng có thể thấy sợ bị gia đình, bạn bè, đồng nghiệp ruồng bỏ, hay bị các tổ chức tôn giáo từ chối tiếp nhận.

Một số người đồng tính còn phải lo lắng chuyện bị mất việc hay bị quấy rối ở trường học nếu có nhiều người biết về xu hướng tính dục của họ. Thật không may là những người đồng tính và song tính phải đối mặt với nguy cơ bị hành hung và bạo lực thể xác cao hơn so với người dị tính. Các nghiên cứu tiến hành ở California vào giữa thập niên 90 nhận thấy có gần 1/5 số người đồng tính nữ và hơn 1/4 số người đồng tính nam tham gia nghiên cứu đã từng là nạn nhân  của các trường hợp gây tội ác dựa trên phân biệt xu hướng tính dục. Một nghiên cứu khác cũng được làm ở California với khoảng 500 người trẻ tham gia, trong đó một nửa số người thừa nhận mình đã từng có những hành vi gây hấn chống lại người đồng tính, có lời lẽ xúc phạm với họ hay gây bạo lực thể xác.

 Ở Việt Nam, trong một nghiên cứu năm 2009 của iSEE về người đồng tính nam, 90% người đồng tính nam tham gia cảm thấy xã hội có thái độ tiêu cực với người đồng tính, từ đó có đến 86% trong số họ phải che giấu chuyện tính dục của mình với mọi người xung quanh. Hầu hết họ gặp phải sự định kiến và kỳ thị của gia đình và bạn bè.  Trong 1800 người tham gia trả lời, vì việc họ đồng tính mà 20% số người đó nói họ đã mất bạn, 15% bị gia đình rầy la, 6.5% mất việc, 4.5% bị đánh và 4.1% bị đuổi ra khỏi nhà. Ngoài ra, các nghiên cứu của các tổ chức iSEE, CCIHP, CSAGA cũng chỉ ra những hình thức bạo lực dựa trên cơ sở xu hướng tính dục và bản dạng giới phổ biến nhất là: bạo lực thể xác, bạo lực tâm lý, bạo lực tình dục, và các hình thức ép người đồng tính, song tính đi chữa bệnh tâm thần.

(*) iSEE: Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường; CCIHP: Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số; CSAGA: Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học về Giới - Gia đình - Phụ nữ và Vị thành niên.

  Tình trạng định kiến và kỳ thị gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tâm trí của người đồng tính, song tính.  Nó gây stress cho họ.  Để  đối  phó  với  stress, con người có thể cậy nhờ vào những người hỗ trợ xung quanh, nhưng với người đồng tính và song tính họ khó làm vậy được vì chính những người xung quanh cũng đang có những định kiến và sự kỳ thị với họ.

Theo Trung Tâm ICS



TỔNG ĐÀI TƯ VẤN BỆNH ĐỒNG TÍNH: 1900 6233

Tại sao quá trình công khai của một số người đồng tính, song tính lại rất khó khăn?

By Mr. Hình →
Không. Các nhà tâm thần học, tâm lý học và chuyên gia sức khỏe tâm thần đã đồng ý với nhau rằng đồng tính không phải là bệnh, rối loạn tâm lý hay vấn đề về cảm xúc. 

Hành vi dị tính hay hành vi đồng tính đều là những khía cạnh bình thường của tính dục con người. Cả hai đều được ghi nhận trong các nền văn hóa và giai đoạn lịch sử khác nhau. Mặc dù những định kiến dai dẳng vẫn xây dựng hình ảnh người đồng tính, song tính như những người lệch lạc, hàng thập kỷ nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng đều đi đến kết luận rằng đồng tính, dị tính hay song tính đều là điều bình thường, tự nhiên của con người. Các tổ chức y học, sức khỏe tâm thần đều lần lượt không còn xem đồng tính là một bệnh hay rối loạn tâm lý nữa.

Trong quá khứ đồng tính từng bị coi là rối loạn tâm lý bởi vì các chuyên gia sức khỏe tâm thần và cả xã hội đã có những thông tin sai lệch về đồng tính, do họ chỉ nghiên cứu trên những người đồng tính vốn đang phải trị liệu tâm lý. Khi những nghiên cứu về sau này mở rộng ra những người đồng tính không trị liệu tâm lý, kết luận đồng tính là rối loạn tâm lý trở nên không đúng nữa đối xử khiến nhiều người chối bỏ xu hướng tính dục của mình, vì thế việc nhận ra bản thân là đồng tính hay song tính có thể là một quá trình diễn ra từ từ.



Theo ICS


TỔNG ĐÀI TƯ VẤN BỆNH ĐỒNG TÍNH: 1900 6233

Đồng tính có phải là một bệnh, rối loạn tâm lý hay vấn đề về cảm xúc hay không?

By Mr. Hình →
GAY – LESBIAN (Người đồng tính):

 Là một người (nam hoặc nữ) có sự hấp dẫn về tình cảm và/hoặc tình dục với người cùng giới. Người đồng tính nam thường được gọi là gay và đồng tính nữ gọi là les/lesbian.

BISEXUAL (Người song tính): 

Là một người (nam hoặc nữ) có sự hấp dẫn về tình cảm và/hoặc tình dục với cả nam và nữ, nhưng không nhất thiết cùng một lúc hoặc ngang bằng nhau.

ASEXUAL (Người vô tính):

 Là một người (nam hoặc nữ) không trải qua sự hấp dẫn về tình dục với bất kì ai. Một vài người vẫn trải qua sự hấp dẫn về mặt tình cảm; một số khác không. Sự hấp dẫn về tình cảm của người vô tính có thể với người cùng giới, khác giới hoặc cả hai. Người vô tính không phải là người vô cảm hay lãnh cảm tình dục.

TRANSGENDER (Người chuyển giới): 

Người chuyển giới là một người có cảm nhận rằng giới tính mong muốn của mình không trùng với giới tính sinh học đang có. Ví dụ một người có cơ thể là nam và nghĩ mình là nữ và ngược lại.

INTERSEX (chưa thống nhất tên gọi, có lúc được dịch là lưỡng tính, liên giới tính, ái nam ái nữ, tạm gọi là Liên giới tính): 

Có thể hiểu là những người có khiếm khuyết về giới tính sinh học. Liên giới tính có hai loại: Liên giới tính có thể là thật (true hermaphroditism) hay giả (pseudo-hermaphroditism). Người liên giới tính thật mang cả hai bộ nhiễm sắc thể giới tính XX (dành cho nữ) và XY (dành cho nam). Họ thường có bộ sinh dục ngoài không rõ ràng, dù có vẻ giống phái nam nhiều hơn. Người liên giới tính giả nam có bộ nhiễm sắc thể giới tính XY của nam, nhưng do nội tiết tố (hormone) nam không phát huy tác dụng nên cơ thể họ không phát triển theo hướng nữ giới hay bộ sinh dục ngoài nhìn không rõ là nam hay nữ. Người liên giới tính giả nữ có bộ nhiễm sắc thể nữ XX, nhưng do nội tiết tố nam phát triển mạnh bất thường nên bộ sinh dục trông giống cả nam lẫn nữ.

Cần phân biệt đồng tính và chuyển giới:

- Nói đến người chuyển giới, là ta đang nói về "bản dạng giới" (cảm nhận của một người về giới tính mà mình mong muốn hay trả lời câu hỏi tôi là ai?). Ví dụ là nam nghĩ rằng mình là nữ, hay ngược lại. Như vậy thì người chuyển giới là người có cảm nhận rằng giới tính mình mong muốn khác với giới tính mình đang có. 

Nhiều người hay hiểu rằng người chuyển giới phải là người đã phẫu thuật chuyển giới, nhưng điều đó là không nhất thiết. Có những người chuyển giới đã trải qua phẫu thuật, và cũng có những người chưa hoặc không trải qua phẫu thuật. Nhiều bạn chuyển giới cho rằng phẫu thuật rồi thì mới được gọi là người chuyển giới, còn chưa thì sẽ gọi là người đồng tính. Điều này, là không chính xác.
- Nói đến người đồng tính, là ta đang nói về "xu hướng tính dục" (sự hấp dẫn của một người với giới nào hay trả lởi câu hỏi tôi bị hấp dẩn bởi ai?). Ví dụ là nam và yêu nữ, hay là nữ và yêu nữ...

Cần phân biệt chuyển giới (Transgender) và liên giới tính (Intersex):

Nói đến người chuyển giới, là ta đang nói về "bản dạng giới" (tức là cảm nhận của một người về giới tính mà mình mong muốn hay trả lời câu hỏi tôi là ai?). Ví dụ là nam nghĩ rằng mình là nữ, hay ngược lại. Như vậy thì người chuyển giới là người có cảm nhận rằng giới tính mình mong muốn khác với giới tính mình đang có. 

Còn nói đến người liên giới tính là đang nói về những trục trặc hoặc khiếm khuyết về “giới tính sinh học”, chủ yếu là hình thái cơ quan sinh dục không rõ ràng như trong cơ thể có cả buồng trứng và tinh hoàn, bộ phận sinh dục dị dạng, lạc chỗ… trong trường hợp này y học có thể can thiệp nhưng nó phụ thuộc vào yêu cầu cá nhân người bệnh và dựa trên hình thái thực thể.

HIỂU ĐÚNG VỀ CÁC KHÁI NIỆM: GAY, LESBIAN, BISEXUAL, ASEXUAL, TRANSGENDER , INTERSEX

By Unknown →
Câu 4: Tại sao quá trình công khai của một số người đồng tính nam, đồng tính nữ, song tính lại rất khó khăn?
Trả lời:
 Có những người đồng tính và song tính gặp khó khăn trong quá trình công khai về tính dục của bản thân, và cũng có những người không gặp khó khăn cho lắm. Thường thì những người đồng tính nữ, đồng tính nam và người song tính sẽ thấy e ngại, thấy mình khắc biệt và lẻ loi khi mới bắt đầu nhận ra xu hướng tính dục của mình khác với chuẩn mực của số đông. Điều này càng đúng với những ai nhận ra xu hướng đồng tính hoặc song tính của mình từ khi còn nhỏ hoặc ở tuổi thiếu niên. những trường hợp đó không hề hiếm; và họ có thể họ sẽ phải cố gắng vật lộn với những định kiến và thông tin sai lệch về đồng tính trong gia đình cũng như môi trường sống chung quanh của mình. Trẻ em và thiếu niên là những đối tượng dễ chịu ảnh hưởng tai hại nhất khi bị phân biệt đối  xử và định khuôn. Chúng có thể thấy sợ vì nguy cơ bị gia đình, bạn bèm, đồng nghiệp ruồng bỏ, hay bị các tổ chức tôn giáo từ chối tiếp nhân.



Một số người đồng tính còn phải lo lắng chuyện bị mất việc hay bị quấy rối ở trường học nếu có nhiều người biết xu hướng của họ. Thật không may những người đồng tính và song tính phải đối mặt với nguy cô bị hành hung và bạo lực thể xác cao hơn với những người dị tính. Các nghiên cứu tiến hành ở California vào giữa thập niên 90 nhận thấy có gần 1/5 số người đồng tính nữ và hơn 1/4 số người đồng tính nam tham gia nghiên cứu đã từng là nạn nhân của các trường hợp gây tội ác dựa trên phân biệt xu hướng tính dục. Một nghiên cứu khác cũng làm ở California với khoảng 500 người trẻ tham gia, trong đó một nửa số người thừa nhận mình đã từng có hành vi gây hấn chống lại người đồng tính, như có lời lẽ xúc phạm với họ hay gây bạo lực thể xác.

Câu 5: Làm cách nào để loại bỏ được những định kiến và kỳ thị mà người đồng tính nam, đồng tính nữ và song tính gặp phải?

Trả lời:
Có nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người có thái độ tích cực nhất với những người đồng tính nam, đồng tính nữ và người song tính - thường đó là một người bạn hay đồng nghiệp của họ. Vì vậy mà các nhà tâm lý tin rằng những thái độ tiêu cực về nhóm ngời đồng tính nói chung thực ra là những định kiến, và những định kiến này xuất phát từ sự hiểu lầm và thói quen định khuôn chứ không dựa trên trải nghiệm có thực.
Ngoài ra, cũng như nhóm người thiểu số khác, việc có những biện pháp và cơ chế bảo vệ để chống bạo lực và kỳ thị là rất quan trọng. Một số nơi đã liệt hình thức bạo lực dựa trên xu hướng tính dục của một cá nhân là một loại "tội ác thù ghét".

Câu 6: Tại sao lại cần phải giáo dục và nâng cao nhận thức cho cộng đồng xã hội về chủ đề đồng tính và đa dạng tính dục?
Trả lời :
Việc giáo dục đồng tính cho mọi người về chủ để đồng tính và đa dạng tính dục sẽ giúp loại trừ những định kiến về người đồng tính và nhóm người thiểu số tính dục nói chung. Những thông tin chính xác sẽ đặc biệt cần thiết cho những người trẻ tuổi đang bước đầu khám phá, tìm hiểu về khía cạnh tính dục của bản thân - cho dù họ có đồng tính, song tính hay dị tính. Những quan ngại về việc các thông tin như vậy sẽ làm cho nhiều người trở thành đồng tính hơn là hoàn toàn vô lý và sai sự thật - thông tin đúng về đồng tính tự nó không thể làm cho một người là đồng tính hay dị tính.

Câu 6: Có phải người đồng tính và song tính nam đều nhiễm HIV?
Trả lời: 
Không. Đó chỉ là một điều ngộ nhận hoang đường. Trong thực tế, nguy cơ nhiễm HIV liên quan đến hành vi của một người, chứ không liên quan đến xu hướng tính dục của người đó. mọi hành vi quan hệ tình dục không an toàn, dù là cùng giới hay khác giới đều nguy hiểm như nhau. Điều quan trọng cần nhớ về HIV/AIDS là bạn có thể phòng ngừa bằng cách thực hành quan hệ tình dục an toàn, cũng như không sử dụng các chất ma túy.

NHỮNG THẮC MẮC VỀ ĐỒNG TÍNH (phần 2)

By Unknown →
Câu 1. Đồng tính có phải là một rối loạn tâm lý hay vấn đề về cảm xúc hay không?
Trả lời:
Không. Các nhà tâm thần học, tâm lý học và chuyên gia sức khỏe tâm thần đã đồng ý với nhau rằng đồng tính không phải là bệnh, rối loạn tâm lý hay vấn đề về cảm xúc.
Trong quá khứ đồng tính từng bị coi là rối loạn tâm lý bởi vì các chuyên gia về sức khỏe tâm thần và cả xã hội học đã có những thông tin sai lệch về đồng tính, do họ chỉ nghiên cứu trên những người đồng tính vốn đang phải trị liệu tâm lý. Khi nghiên cứu về sau này mở rộng ra những người đồng tính không trị liệu tâm lý, kết luận đồng tính là rối loạn tâm lý trở nên không đúng nữa.

Câu 2. Người đồng tính nữ, đồng tính nam và người song tính có thể là những ông bố, bà mẹ tốt không?
Trả lời: 
Có. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng không có sự khác biệt nào trong quá trình phát triển của nhóm trẻ em do các bậc phụ huynh là người đồng tính nuôi dạy so với nhóm trẻ em có phụ huynh là người dị tính; dựa trên cả bốn yếu tố quan trọng là: trí thông minh của trẻ, sự biến chuyển tâm lý, sự thích nghi với xã hội và mức độ hòa nhập với bạn bè. Một điều quan trọng cần biết nữa là xu hướng tình dục của người bố hay người mẹ không quyết định được xu hướng tính dục của đứa con. Cha mẹ đồng tính không có nghĩa là con cãi cũng sẽ đồng tính, bởi vì cũng giống như cha mẹ dị tính không có nghĩa là con cái cũng sẽ dị tính.

Có một điều ngộ nhận hoang đường cho rằng người đồng tính nam thường đi quấy rối tình dục trẻ em nhiều hơn so với người dị tính nam. Sự thật là không có một bằng chứng khoa học nào chứng minh được chuyện người đồng tính hay quấy rối tình dục trẻ em hơn người dị tính cả.

Câu 3: Tại sao có những người đồng tính nam, đồng tính nữ và song tính nói ra xu hướng tính dục của mình với người khác?
Trả lời:
Họ nói ra vì việc chia sẻ về xu hướng của mình với người khác rất quan trọng với họ và sức khỏe tinh thần của họ. Thực vậy, có những bằng chứng khoa học cho thấy quá trình nhận dạng và công khai về tính dục của người đồng tính nam, đồng tính nữ và song tính có liên quan mật thiết với các chuyển biến về tâm lý của họ - quá trình đó càng thuận lợi và tích cực thì sức khỏe tinh thần và lòng tự trọng của bản thân họ càng được nâng cao.


NHỮNG THẮC MẮC VỀ ĐỒNG TÍNH (phần 1)

By Unknown →
Sexuality - Tính dục
Tính dục là tổng thể con người, bao gồm mọi khía cạnh đặc trưng của nam hay nữ và biến động suốt đời. Tính dục phản ánh tính cách con người, không phải chỉ là bản chất sinh dục. Vì là một biểu đạt tổng thể của nhân cách, tính dục liên quan tới yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tinh thần và văn hóa của đời sống.

Tính dục khác với tình dục, vốn chỉ về quan hệ tính giao đơn thuần giữa hai người. Hiểu rõ về "sexuality" rất quan trọng, vì nó liên quan đến rất nhiều thuật ngữ khác.
Tính dục bao gồm những yếu tố như:
- Giới tính sinh học: xác định thông qua cấu tạo cơ thể và những biểu hiện trên cơ thể.
-  Biểu hiện giới tính: xác định thông qua những đặc điểm giới tính mà họ thể hiện.
 -  Cảm nhận giới tính: xác định thông qua cảm nhận về giới tính của một người về chính bản thân họ.
-  Khuynh hướng tính dục: xác định thông qua cảm nhận, mong muốn về tình cảm, tình yêu, tình dục của một người hướng đến người khác.

1. Sex/Biological Sex - Giới tính sinh học
Xác định thông qua những đặc điểm sinh học của cơ thể như cấu tạo gene, nội tiết tố, bộ phận sinh dục chính, bộ phận sinh dục phụ, vân vân. Giới tính sinh học bao gồm nam giới, nữ giới, và những trường hợp khác.
Nam giới là người có đầy đủ những đặc điểm sinh học của nam (cấu trúc gene XY, nội tiết tố Testosterone, cấu tạo cơ thể có dương vật, tinh hoàn, vân vân) và nữ giới là người có đầy đủ những đặc điểm sinh học của nữ (cấu trúc gene XX, nội tiết tố Estrogen, cấu tạo cơ thể có âm đạo, tử cung, trứng, vân vân)
Có những trường hợp khác của giới tính sinh học do khiếm khuyết sinh học gây ra. Bốn khả năng của khiếm khuyết sinh học là:
·         Người có bộ phận sinh dục nam không rõ.
·         Người có bộ phận sinh dục nữ không rõ.
·         Người có cả bộ phận sinh dục nam và nữ.
·         Người không có cả bộ phận sinh dục nam hoặc nữ.
Giới tính sinh học vừa dễ vừa khó nhận biết, do các cơ quan này phần lớn là bộ phận cơ thể kín đáo và nhạy cảm, hoặc có khiếm khuyết ẩn sâu.
Bên cạnh đó, có những trường hợp khác do can thiệp của con người. Ba khả năng của việc can thiệp này là:
·         Người phẫu thuật chuyển bộ phận sinh dục nam thành nữ;
·         Người phẫu thuật chuyển bộ phận sinh dục nữ thành nam; và
·         Người phẫu thuật để có cả bộ phận sinh dục nam và nữ

2. Gender Presentation/Gender Role- Biểu hiện giới tính

Xác định thông qua những đặc điểm giới tính mà họ thể hiện ra bên ngoài như cách thức phục trang, cách thức ứng xử, tính cách, hành vi. Nói cách khác đó là "giới tính bên ngoài" của mỗi người.
·     Nam tính là những đặc điểm bên ngoài, tính cách được đa số người quan niệm thuộc về nam (dáng đi cứng, dáng ngồi vuông, khuôn mặt sắc cạnh xanh râu, nước da ngăm ngăm, ăn mặc lịch lãm hay phong trần, tránh để lộ cơ thể, ăn to nói lớn, tay chân đầu cổ không múa may điệu đà, làm những việc mà nam giới hay làm, vân vân).
·    Nữ tính là những đặc điểm bên ngoài, tính cách được đa số người quan niệm thuộc về nữ (dáng đi mềm mại, thướt tha, mặt nhỏ, da trắng, ăn mặc làm nổi lên những đường nét của cơ thể, giọng nói nhẹ nhàng thanh nhã, cử chỉ linh hoạt mềm mại, làm những việc mà nữ giới hay làm, vân vân).
Mỗi người đều có thể có nhiều hay ít những đặc điểm nam tính và nữ tính. Tùy mức độ hòa trộn cũng như nổi trội của từng đặc điểm mà một người có thể được đánh giá khác nhau. Sự biểu hiện cũng có thể thống nhất hay đứt quãng, chẳng hạn một người có biểu hiện trước mọi người hoàn toàn là nam giới, nhưng khi về nhà chỉ có một mình lại thích như hóa thân vào nữ giới: ăn mặc đồ phụ nữ, trang điểm…
Biểu hiện giới tính là đặc điểm dễ nhận biết nhất đối với người xung quanh, xuất phát từ tính chất của sự thể hiện ra bên ngoài và những khuôn mẫu, quan niệm sẵn có của xã hội. Biểu hiện giới tính còn có thể gọi là vai trò giới, bởi nó xuất phát từ đánh giá của xã hội về vị trí, sự cần thiết và thái độ, phản ứng dành cho một cá nhân về cung cách sống của họ. Xã hội mong muốn giới tính của người đó như thế nào, sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến biểu hiện giới tính của họ.

3. Gender/Gender Identity – Bản sắc giới


Xác định thông qua cảm nhận về giới tính của một người về chính bản thân họ. Nói cách khác đó là "giới tính bên trong" của mỗi người.
·  Người cảm nhận là nam là người mà trong suy nghĩ của họ, khi đặt ra câu hỏi “tôi là nam hay nữ”, câu trả lời sẽ là “nam”.
·  Người cảm nhận là nữ là người mà trong suy nghĩ của họ, khi đặt ra câu hỏi “tôi là nam hay nữ”, câu trả lời sẽ là “nữ”.
·  Những trường hợp khác, khi đặt ra câu hỏi “tôi là nam hay nữ”, câu trả lời có thể sẽ là “cả hai”, “chút này chút kia”, “tôi không biết”, hay thậm chí là “không ai cả”.
Sự cảm nhận có thể ở dạng minh thị (tỏ thái độ không hài lòng) hay mặc thị (không tỏ thái độ không hài lòng). Chẳng hạn, người cảm nhận là nam không nhất thiết phải là người giữ trong đầu ý nghĩ “mình là đàn ông”, mà chỉ đơn giản là chưa bao giờ có ý nghĩ mình là phụ nữ.
Cảm nhận giới tính không nhất thiết đồng nhất với giới tính sinh học hay biểu hiện giới tính. Một người có giới tính sinh học là nam giới, biểu hiện bên ngoài như nam giới, nhưng có thể cảm nhận mình là nữ giới. Tuy vậy, cảm nhận giới tính quan hệ chặt chẽ với giới tính sinh học và biểu hiện giới tính. Phải dựa trên yếu tố sinh học, biểu hiện giới tính hiện thời, thì một người mới có thể xác định được cảm nhận của mình.

Cảm nhận về giới tính cũng không nhất thiết đồng nhất với mong muốn về giới tính. Nói cách khác, “nam cảm nhận mình là nữ” không nhất thiết “mong muốn mình là nữ”. Tương tự, như nhiều người nam chuyển đổi giới tính thành nữ ở Thái Lan hay thái giám ngày xưa chẵng hạn, có thể “mong muốn, và đã trở thành phụ nữ” nhưng họ vẫn cảm nhận mình là nam, đơn giản là có thể do hoàn cảnh, công việc của họ tạo ra “mong muốn” đó mà thôi.


4. Sexual Orientation – Khuynh hướng tính dục


Là khái niệm để chỉ đối tượng nào mà những cảm nhận về tình cảm, tình yêu và tình dục của một người hướng tới. Nếu:
·    Một người hướng tình cảm, tình yêu, hay tình dục của mình đến với người khác bản sắc giới tính như mình, thì gọi là người có khuynh hướng tính dục dị giới. Hay còn gọi là người dị tính luyến ái.
·    Một người tình cảm, tình yêu, hay tình dục của mình đến với người có cùng bản sắc giới tính như mình, thì gọi là người có khuynh hướng tính dục đồng giới. Hay còn gọi là người đồng tính luyến ái.
·   Một người hướng tình cảm, tình yêu, hay tình dục của mình đến với cả bản sắc giới tính như mình và khác mình, thì gọi là người có khuynh hướng tính dục song giới. Hay còn gọi là người song tính luyến ái.
·      Và một số trường hợp khác.
Ở đâu đó, người ta có một định nghĩa ngắn gọn và dễ hiểu hơn, đại loại: “người đồng tính là người có quan hệ tình dục với người đồng giới”. Tuy nhiên, trong luận điểm trên có hai sai lầm cơ bản sau.
·   Thực tế thì tình dục không phải là tất cả. Việc có ham muốn tình dục với ai thuộc về hành vi tính dục, chứ không phải khuynh hướng tính dục. Một người, không có ham muốn tình dục với người đồng giới, vẫn có thể là người đồng tính. Ngược lại, một người có ham muốn tình dục với người đồng giới thì chưa chắc là người đồng tính. Khuynh hướng tính dục đề cập đến cảm xúc và sự cảm nhận về chính mình, không phải những gì họ biểu hiện.
·     “Người đồng giới” là một người “cùng giới tính”? Như đã nói ở phần “bản sắc giới tính”, nếu nói “cùng giới tính” thì có đến 3 khả năng: có giới tính sinh học giống nhau, có biểu hiện giới tính giống nhau và có cảm nhận giới tính giống nhau. Không thể chỉ căn cứ vào một trong ba yếu tố trên mà kết luận về khuynh hướng tính dục được.
Trường hợp như nghệ sĩ Chinh Nhân yêu ca sĩ chuyển giới Cát Tuyền, có thể gọi ai là người đồng tính? Xét về bản sắc giới tính, Cát Tuyền là nữ (kể cả khi chưa phẫu thuật), Chinh Nhân là nam. Từ đó ta kết luận, cả hai đều là người dị tính luyến ái. Những người nam transexual (bản sắc giới tính là nữ), thường không yêu những người transexual như mình (vì họ chỉ hướng đến những người có bản sắc giới tính là nam), vì vậy không thể gọi họ là người đồng tính. 

 Quan hệ giữa 4 yếu tố

Giới tính sinh học, biểu hiện giới tính và cảm nhận giới tính lần lượt dựa trên các yếu tố sinh lý, xã hội và tâm lý. Có thể kết hợp những đặc điểm của từng yếu tố để tạo ra một bản sắc giới tính khác nhau. Ví dụ:
·      Người có giới tính sinh học là nam giới. Biểu hiện bên ngoài như nam giới. Cảm nhận mình là nam giới. Yêu một người nam giới và lập gia đình với một phụ nữ.
·      Người có giới tính sinh học là nữ giới. Biểu hiện bên ngoài như nam giới. Cảm nhận mình là vừa là nam vừa là nữ giới. Yêu một người nữ giới và quan hệ với phụ nữ.
·     Người có giới tính sinh học là nam giới. Biểu hiện bên ngoài như nữ giới. Cảm nhận mình không phải là nam giới. Yêu nam giới và không có quan hệ tình dục.
Có thể nôm na xác định giới tính sinh học, biểu hiện giới và bản sắc giới, khuynh hướng tính dục và bằng các câu hỏi “tôi có cơ thể nam hay nữ”, “tôi cư xử như nam hay nữ” và “tôi là nam hay nữ”, “ai hấp dẫn tôi”.
Trên thực tế, biểu hiện giới tính của một người là căn cứ hay được dùng nhất để đánh giá về bản sắc giới tính của họ. Bởi nó là đặc điểm dễ nhận thấy nhất đối với những người xung quanh. Nhưng sai lầm hơn cả là dựa vào thể hiện giới tính để đánh giá về khuynh hướng tính dục của một người. 

BÀN VỀ TÍNH DỤC (Sexuality)

By Unknown →
Nhìn thấy một chàng trai ăn mặc lòe loẹt, điệu bộ ẻo lả, mọi người thường cho là đồng tính, nhưng thực tế đó có thể là người chuyển giới từ nam sang nữ.

Chuyển giới là việc một người cảm nhận mình thuộc một giới tính khác với giới tính sinh học của mình. Cảm nhận về giới tính này được gọi là bản dạng giới. Ví dụ: Người chuyển giới nam nghĩa là người đó sinh ra với cơ thể nữ nhưng cảm nhận giới tính của mình là nam. Khái niệm này không phụ thuộc vào việc người đó đã phẫu thuật chuyển giới hay chưa. Trong trường hợp người chuyển giới mà thực hiện phẫu thuật theo giới tính mình mong muốn thì đây là người chuyển giới đã phẫu thuật. Khi đó, họ muốn được gọi tên và nhìn nhận như giới tính mình mong muốn (là nam hoặc nữ).

Đồng tính là một người có xu hướng yêu người cùng giới với mình. Ví dụ: Người đồng tính nam (gay) có nghĩa người đó là nam và yêu người nam. Bản thân người đó vẫn cảm nhận mình là nam.

Định nghĩa một người nam không bao hàm việc người đó phải yêu nữ thì mới là nam, hay một người nữ phải yêu nam thì mới là nữ. Khoa học về giới và tính dục hiện nay ghi nhận có người nam có xu hướng yêu nam, người nữ có xu hướng yêu người nữ khác.

Hiện nay có một số hiểu lầm phổ biến trong xã hội về người đồng tính và chuyển giới như sau:

1. Cứ nhìn bề ngoài thì biết người đó đồng tính hay chuyển giới

Thực ra để trả lời xem một người là đồng tính hay dị tính cần phải đặt câu hỏi “Người đó thường thấy yêu ai?”. Còn để biết xem một người chuyển giới hay không thì cần hỏi “Người đó cảm nhận giới tính của mình là gì? Khác hay giống với giới tính lúc mới sinh?”.

Hai câu hỏi trên không xét đến vẻ bề ngoài. Chuyện ăn mặc, phục sức hay điệu bộ, cử chỉ, cách xưng hô trong mối quan hệ yêu đương của một người không phải là căn cứ chắc chắn để nhận diện một người có xu hướng yêu ai và họ cảm nhận giới tính của mình là gì. Nó thuộc về khái niệm thể hiện giới và vai trò giới: Một người nam có thể có những mức độ nam tính khác nhau (không phải ai cũng cơ bắp, 6 múi, mặc quần áo màu tối, trụ cột gia đình). Một người nữ có những mức độ nữ tính khác nhau (không phải ai cũng tóc dài, mảnh mai, mặc quần áo màu sáng, nội trợ ở nhà).

Quan niệm nam tính, nữ tính cũng như các vai trò tương ứng trong mối quan hệ có thể thay đổi qua từng thời kỳ. Ngày nay, nhìn một người nam mặc áo hồng cũng chẳng thể nói được anh ta có xu hướng tính dục dị tính hay đồng tính, có chuyển giới hay không. Nhìn một người nữ cắt tóc tém cũng không khẳng định được cô ấy là đồng tính nữ, chuyển giới hay không.

Thực tế khi một người con trai ăn mặc điệu đà, cử chỉ ẻo lả, mọi người hay gọi anh ta là đồng tính. Cách gọi này chỉ đơn thuần là sự phỏng đoán, có thể đúng có thể không (có thể đó là người chuyển giới nam sang nữ chẳng hạn). Cho nên muốn biết chính xác hơn, cần tìm hiểu rõ về cảm xúc yêu và cảm nhận giới tính họ.

Chuyện thể hiện giới bề ngoài còn tùy thuộc vào cả sở thích thời trang, không gian, thời điểm, công việc của mỗi người. Nếu chỉ nhìn một người tại một lúc, một nơi nào đó thì không thể biết họ yêu ai và cảm nhận gì bên trong trái tim. Nhìn nhau là hành vi tức thời, còn để biết và hiểu rõ thì cần nhiều hơn một cái nhìn, cần phải có sự giao tiếp, đối thoại, quan tâm lẫn nhau.

2. Đồng tính là chuyển giới; chuyển giới là đồng tính

Đồng tính và chuyển giới thuộc về 2 khái niệm khác nhau: Đồng tính đề cập về xu hướng tính dục của con người (xu hướng dị tính: yêu khác giới; xu hướng đồng tính: yêu cùng giới). Trong khi chuyển giới nói về bản dạng giới của con người, từ đó phân chia thành người không chuyển giới tức là bản dạng trùng với giới tính lúc mới sinh. Người chuyển giới là bản dạng khác với giới tính lúc mới sinh.. 

LGBT là từ viết tắt chỉ nhóm người gồm đồng tính nữ (Lesbians), đồng tính nam (Gays), song tính (Bisexuals) và chuyển giới tính (Transgender). Trong đó 3 chữ cái đầu đề cập về xu hướng tính dục (đồng tính nam, đồng tính nữ, song tính), còn chữ T (chuyển giới) là nói đến bản dạng giới của một con người.

3. Đã đồng tính thì không phải chuyển giới. Chuyển giới thì không phải đồng tính

Bản dạng giới và xu hướng tính dục là 2 khái niệm khác nhau nhưng không phải tách biệt theo kiểu loại trừ nhau. Cần có cách hiểu đúng là: Mỗi người đều có xu hướng tính dục và bản dạng giới của riêng mình, giống như ai cũng có màu tóc và màu mắt của riêng mình vậy. Từ đó, sẽ có những nhóm người khác nhau, chẳng hạn như:

- Người không chuyển giới (bản dạng giới giống giới tính lúc mới sinh) và yêu khác giới (xu hướng tính dục dị tính). Đây là trường hợp thường thấy trong xã hội. Ví dụ: Một người sinh ra là nữ, cảm nhận mình là nữ và yêu nam.

- Người không chuyển giới mà yêu cùng giới (xu hướng tính dục đồng tính). Đây là người không chuyển giới và là người đồng tính.

- Người chuyển giới (bản dạng giới khác giới tính lúc mới sinh) và yêu cùng giới (xu hướng tính dục đồng tính). Đây là người chuyển giới và đồng tính. Ví dụ: Một người sinh ra là nam, cảm nhận mình là nữ và yêu nữ. Đó là người chuyển giới đồng tính nữ. Trường hợp này là thiểu số.

- Tương tự, có người chuyển giới và yêu khác giới (chuyển giới dị tính). Chẳng hạn một người sinh ra là nữ, cảm nhận mình là nam và yêu nữ.

Tóm lại mỗi người mang một đặc điểm riêng về bản dạng giới và xu hướng tính dục. Hai khái niệm đó không phải là loại trừ nhau (có cái này thì không có cái kia) và cũng không phải là dành riêng (người này có, người kia không có). Đơn giản là trong dân số có những đặc điểm chiếm số ít (đồng tính, chuyển giới) hơn so với những đặc điểm khác (dị tính, không chuyển giới).

4. Đồng tính thì cứ đi chuyển giới để được kết hôn khác giới

Thực ra nhu cầu của người đồng tính là được yêu người mình yêu, là nhu cầu về mối quan hệ cùng giới. Còn nhu cầu của người chuyển giới là được sống với giới tính mình cảm nhận, nó thuộc phạm vi mỗi cá nhân. 

Riêng với người chuyển giới đồng tính, họ cần được bảo vệ quyền theo cả 2 nhu cầu trên: Bản thân họ được sống với cơ thể như họ muốn, đồng thời khi yêu thì được yêu người cùng giới với mình.

Theo VNExpress

NHỮNG HIỂU LẦM PHỔ BIẾN VỀ NGƯỜI ĐỒNG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI

By Unknown →